Tuyển Tập 100 Bài Thơ Hay: Tổ Quốc Ta Bao Giờ Đẹp Thế Này Chăng – Dấu Ấn Thăng Hoa Của Chế Lan Viên
Tuyển Tập 100 Bài Thơ Hay: Tổ Quốc Ta Bao Giờ Đẹp Thế Này Chăng – Dấu Ấn Thăng Hoa Của Chế Lan Viên
I. Đôi Nét Về Tác Giả Chế Lan Viên
1. Tiểu Sử Và Hành Trình Học Thuật
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, ông lớn lên và theo học ở Quy Nhơn, Bình Định – nơi được xem là quê hương thứ hai đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn ông. Sau khi đỗ bằng Thành chung (tương đương cấp II hiện nay), ông thôi học và đi dạy tư kiếm sống. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi và đến năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông đã xuất bản tập thơ đầu tay gây tiếng vang là Điêu tàn, đồng thời đưa ra lời tuyên ngôn nghệ thuật cho “Trường Thơ Loạn”.
2. Các Giải Thưởng Và Thành Tựu Đóng Góp
Chế Lan Viên là một trí thức uyên bác, có tài tranh luận sắc sảo, tư duy lô-gic, có hình ảnh và giàu sức thuyết phục. Tài năng này không chỉ thể hiện trong thơ ca mà còn trong ứng đối, khiến bạn văn vô cùng thán phục. Xuân Diệu từng nhận xét: “Tranh luận với Chế Lan Viên rất khó. Rõ ràng mình có lý mà cuối cùng lại hóa ra đuối lý với Chế Lan Viên“. Nam Trân ví ông “như một ông trạng khi đi sứ”. Còn nhà văn Anh Đức nói: “Tài ứng đối của Chế Lan Viên thể hiện rất rõ trong các cuộc họp. Anh nói có lý lẽ, có hình ảnh, giàu sức thuyết phục. Nếu ở thời vua chúa, thì thể nào anh cũng phải đi sứ.” Ông cũng được biết đến với bút danh Thạch Hãn, ký trên các bài báo và tiểu luận. Tên gọi Chế Lan Viên được hiểu là ông tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn của dòng họ Chế, dòng dõi vua chúa của dân tộc Chăm ở nước Chiêm Thành xưa, thể hiện tình cảm của ông với Đế chế này và sự xót thương trước sự “Điêu tàn” của nó.
3. Các Tác Phẩm Tiêu Biểu Khác Của Tác Giả
Ngoài tập thơ đầu tay Điêu tàn, Chế Lan Viên còn có nhiều tác phẩm thơ và tiểu luận tiêu biểu khác. Ông từng làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Thơ và cũng ký các bài báo trên báo Thống Nhất bằng bút danh Thạch Hãn. Xuyên suốt sự nghiệp, Chế Lan Viên đã đóng góp một khối lượng lớn tác phẩm giàu tính triết lý, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nền thơ ca Việt Nam, mở ra những góc nhìn mới mẻ và sâu sắc về cuộc đời, con người và Tổ quốc.
Tổ quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng là bài thơ được Chế Lan Viên sáng tác năm 1965 tại Hà Nội, trong không khí xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam. Tác phẩm là một bản trường ca ngắn, thể hiện niềm tự hào mãnh liệt và lòng tin tuyệt đối của nhà thơ vào thời đại hiện tại dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

II. Nội Dung Chính Của Tác Phẩm
Nội dung chính của bài thơ là sự khẳng định một cách hùng hồn và triết lý rằng thời đại hiện tại (thời đại có Đảng) là thời kỳ đẹp nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc, vượt qua cả những đỉnh cao chói lọi trong quá khứ.
1. Khẳng Định Tuyệt Đối Về Vẻ Đẹp Của Hiện Tại (Khổ 1, 2):
-
- Mở đầu bằng câu hỏi tu từ đầy thách thức: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” và tự trả lời dứt khoát: “Chưa đâu!”.
- Nhà thơ liệt kê những đỉnh cao lịch sử (Nguyễn Trãi đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Hưng Đạo diệt Nguyên) nhưng vẫn quả quyết rằng: “Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả”.
- Vẻ đẹp của hiện tại là vẻ đẹp của sự tái sinh, của hạnh phúc tập thể, của con người được tự do sáng tạo và tận hưởng cuộc sống (“Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,” “Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…”).
2. Đối Lập Quá Khứ Đau Khổ Với Hiện Tại Vĩ Đại (Khổ 3, 4):
-
- Quá khứ: Là những tháng ngày tối tăm, đói nghèo, bế tắc, đầy khổ đau và cô đơn. Hình ảnh “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời, / Cửa vẫn đóng và Đời im im khóa” và “Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời” thể hiện sự tuyệt vọng trước cuộc đời cũ. Quá khứ là “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”.
- Hiện tại: Là sự tái sinh kỳ diệu từ Đảng và Bác Hồ: “Lại tái sinh từ Pắc Bó, Ba Tơ…”. Đây là thời điểm mà mọi người đều được thấy Bác, được sống trong kỷ nguyên độc lập và tự do, nơi mọi giá trị được khôi phục.
3. Khát Vọng Lớn Lao Của Thời Đại Mới (Khổ 5):
-
- Hiện tại không chỉ là đẹp mà còn là động lực thúc đẩy mọi vật chất và tinh thần vươn lên mạnh mẽ.
- Ý chí vươn lên của đất nước được thể hiện qua các hình ảnh ẩn dụ: “Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,”, “Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,”, và đặc biệt là sự tiếp nối truyền thống anh hùng trong hiện đại: “Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng…”.
4. Sức Mạnh Tổng Hợp Của Chủ Nghĩa Anh Hùng (Khổ 6, 7, 8):
-
- Sức mạnh được tạo ra từ sự kết hợp giữa ý chí cá nhân và sức mạnh của tập thể, của Đảng (tựa vào Trường Sơn, tựa vào Đảng).
- Thơ ca và cuộc sống hòa quyện: “Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!”. Cuộc sống là những thành tựu của công cuộc xây dựng (hợp tác xã, công nghiệp, điện trời sông Hồng).
- Nhà thơ bày tỏ niềm hạnh phúc khi được sống và cống hiến trong thời đại tái tạo này, bất chấp những khó khăn, mất mát (“Khi thiếu súng và khi thì thiếu gạo”).
5. Lựa Chọn Sống Và Cống Hiến (Khổ 9, 10):
-
- Chế Lan Viên khẳng định sự lựa chọn thời đại của mình, một sự lựa chọn triết lý: “Cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời,”.
- Ông muốn được hòa mình vào những khoảnh khắc lịch sử vĩ đại nhất, sánh vai cùng những anh hùng chống Mỹ (Nguyễn Văn Trỗi, dũng sĩ diệt xe tăng) để làm nên vẻ đẹp của Tổ quốc.
III. Giá Trị Nghệ Thuật
Bài thơ đạt đến đỉnh cao của thơ ca chính trị – sử thi hiện đại, với những đặc trưng nghệ thuật nổi bật:
1. Tính Triết Luận và Chất Sử Thi:
-
- Sử dụng hình thức nghị luận trong thơ, đặt ra vấn đề lớn về lịch sử và thời đại, sau đó phân tích và khẳng định bằng luận điểm sắc bén.
- Giọng điệu hùng tráng, ngợi ca, vang vọng, tạo nên không khí sử thi hoành tráng.
2. Hình Ảnh Độc Đáo và Sáng Tạo:
-
- Hình ảnh mang tính biểu tượng cao: “Trái cây rơi vào áo người ngắm quả” (hạnh phúc bình dị); “Cửa vẫn đóng và Đời im im khóa” (sự bế tắc của quá khứ).
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa hình ảnh lịch sử (Bạch Đằng, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi) và hình ảnh hiện tại (Trường Sơn, hợp tác xã, mẻ thép gang đầu).
3. Cấu Trúc Đối Lập và Lối Kể Chuyện Hùng Biện:
-
- Sử dụng nghệ thuật đối lập triệt để giữa “xưa” (đói nghèo, bất lực) và “nay” (độc lập, vinh quang, vươn lên) để làm nổi bật vẻ đẹp của hiện tại.
- Kết cấu chặt chẽ, đi từ câu hỏi tu từ, dẫn dắt bằng chứng lịch sử, phản biện quá khứ, khẳng định hiện tại, và kết thúc bằng khát vọng lựa chọn thời đại.
4. Ngôn Ngữ Giàu Tính Khẳng Định và Nhịp Điệu Hào Hùng:
-
- Sử dụng nhiều từ ngữ mang tính khẳng định, dứt khoát (“Chưa đâu!”, “ngày đẹp hơn tất cả”).
- Vần thơ linh hoạt, câu thơ dài ngắn đan xen, tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, phù hợp với cảm hứng sử thi.
Tóm lại, “Tổ quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng” là một tác phẩm mẫu mực của thơ ca thời kháng chiến chống Mỹ, nơi chất triết luận kết hợp hài hòa với cảm hứng sử thi để ngợi ca niềm tin tuyệt đối vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Sau đây là bài thơ:
Tổ quốc ta bao giờ đẹp thế này chăng
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc.
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn:
Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ,
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…
Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,
Cửa vẫn đóng và Đời im im khóa
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn Chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!
Có phải cha ông đến sớm chăng và cháu con thì lại muộn?
Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút giây
bây giờ
Buổi đất nước của Hùng Vương có Đảng,
Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ,
Thịt xương ta, giặc phơi ngoài bãi bắn
Lại tái sinh từ Pắc Bó, Ba Tơ…
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng.
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm,
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng…
Ôi! Trường Sơn vĩ đại của ta ơi!
Ta tựa vào ngươi, kéo pháo lên đồi,
Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát,
Dưới chân ta, đến đầu hàng Đờ-cát,
Rồng năm móng vua quan thành bụi đất,
Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!
Đều lộng hương thơm những cánh đồng hợp tác
Chim cu gần, chim cu gáy xa xa…
Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cắt,
Đêm no ấm, giọng chèo khuya khoan nhặt,
Lúa thêm mùa khi lúa chín về ta.
Rồi với đôi tay trắng từ Đinh, Lý, Trần, Lê…
Đảng làm nên công nghiệp.
Điện trời ta là sóng nước sông Hồng
An Dương Vương hãy dậy cùng ta xây sắt thép,
Loa thành này có đẹp mắt Người chăng?
Ong bay nhà khu Tỉnh ủy Hưng Yên
Mật đồng bằng mùa nhãn ngọt môi em
Cây xanh ngắt đất bạc mầu Vĩnh Phúc…
Ôi! Cái thuở lòng ta yêu Tổ quốc
Hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên?
Ôi, cái buổi sinh thành và tái tạo
Khi thiếu súng và khi thì thiếu gạo
Nhưng phù sa đẻ ra những Cà Mau thịnh vượng mai sau.
Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu,
Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau?
Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!
Ôi! Thương thay những thế kỷ vắng anh hùng,
Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận,
Nhà thơ sinh đồng thời với mưa phùn và những buổi hoàng hôn,
Cả xứ sở trắng một màu mây trắng,
Ai biết mây trên trời buồn hơn hay thơ mặt đất buồn hơn?
Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn năm nào đấy nhỉ?
– Cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời,
Mắt được thấy dòng sông ra gặp bể,
Ta với mẻ thép gang đầu là lứa trẻ sinh đôi,
Nguyễn Văn Trỗi ra đi còn dạy chúng ta cười…
Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ,
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
Nhà viết Hồ Tây
gần ngày kỷ niệm Đảng (1965)

